Thứ Tư, 08 2016 12:07 CH
中国的
Ý nghĩa và giá trị hạnh nguyện Bồ-tát (tiếp theo)
03:36 CH | 03/02/2016

Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ CỦA HẠNH NGUYỆN BỒ TÁT (TIẾP THEO)

Thích nữ Nhật Ngọc

4. Ý nghĩa Bồ Tát Qua Phật Giáo Đại Thừa.

Mạch nước thượng nguồn luôn chảy về và tùy duyên luồn lách đi vào các con sông, mương, rạch, ao, hồ, biển cả...để thấm vào lòng đất nuôi dưỡng vạn vật trên quả địa cầu. Cũng thế, tinh thần đạo Phật luôn “tùy duyên bất biến” để phù hợp với căn cơ chủng tánh của mỗi chúng sanh mà hóa độ chứ không đứng khư như gỗ đá. Do vậy, tinh thần Bồ-tát trong tư tưởng Đại thừa đã dựa trên nền tảng của giáo lý Nguyên thủy Phật giáo, nhưng vì đáp ứng nhu cầu trí tuệ của con người trong mỗi thời đại mà đã được thánh hóa ra nhiều hình ảnh sinh động khác nhau. Sự đột phá của kinh Duy Ma Cật, là một người cư sĩ trong giới thượng lưu, nhưng không màng đến danh lợi, chức tước, Ngài đã nỗ lực tu tập tự thân đồng thời gần gũi tất cả mọi tầng lớp trong xã hội để tùy cơ thuyết giáo. Vì thế, hầu hết những hàng cao quý trong nước: Như Vua, quan Bà-la-môn...đến kẻ bần dân hạ tiện nhất là thủ-đà-la cũng kính yêu và quý trọng Ngài rất mực. Bằng chứng trong kinh Duy Ma Cật, phẩm Thăm Bệnh đã có đoạn như sau: “Khi nghe trưởng giả Duy Ma Cật có bệnh, từ quốc vương, đại thần, trưởng giả, cư sĩ, Bà-la-môn, các vương tử và các thân thuộc cả mấy ngàn người lần lượt đến thăm. Lúc ấy, trưởng giả thừa cơ hội bèn thuyết chánh pháp cho đại chúng nghe.”Điều này đã đánh thức cho mọi người biết, thực hành hạnh Bồ-tát dấn thân vào đời cứu độ chúng sanh, cũng như tự thân nỗ lực tu tập đạt đến đạo quả Vô Thượng Bồ Đề, không chỉ nằm yên trong giới tu sĩ xuất gia mà những người tại gia cũng được dự phần.

 

Qua hệ tư tưởng của kinh Pháp Hoa còn táo bạo hơn. Trong các kinh điển Nam truyền, cho Đề Bà Đạt Đa là nhất xiểng đề (hạt giống Phật bị mục nát), người đại diện cho cực ác không bao giờ thành Phật. Ấy thế, mà ở kinh Pháp Hoa đã đưa Ngài lên trở thành một bậc Bồ-tát, vì lòng đại bi mà hiện thân làm những hạnh trái nghịch để cảnh tỉnh chúng sanh, giúp họ lấy đó làm tấm gương ngăn ngừa hành vi tội lỗi chính mình. Trái ngược với Đề Bà Đạt Đa là Bồ Tát Diệu Âm (kinh Pháp Hoa, phẩm Diệu Âm Bồ Tát 24) là vị Bồ-tát có thân tướng trang nghiêm lộng lẫy, mắt của Ngài như cánh sen xanh rộng lớn, ánh sáng trên thân của Ngài còn sáng hơn ánh sáng của trăm ngàn mặt trănghợp lại, thân sắc vàng ròng, phong cách đỉnh đạc, tướng mạo phi phàm, tổng hợp tất cả những tướng tốt và vẻ đẹp một bậc chuyển luân thánh vương. Vị Bồ-tát này đầy đủ thần năng diệu lực, đến đi vô ngại,lòng từ bi và trí tuệ của Ngài không biên giới, để kịp đáp ứng nhu cầu học hỏicho mọi tầng lớp chúng sanh. Đến với Ngài Quán Thế Âm, (Phẩm Phổ Môn Bồ Tát thứ 25). Vì chúng sanh mà ứng hiện thân vô số: Người muốn dùng thân đồng nam đồng nữ để độ thoát, Ngài liền hiện thân đồng nam đồng nữ mà vì đó nói pháp, người đáng dùng thân Bà-la-môn đặng độ thoát, thì Ngài liền hiện thân Bà-la-môn mà vì đó nói pháp…Còn Ngài Phổ Hiền Bồ-tát thì phát nguyện rằng: “Nếu trong đời ngũ trược mà có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu bà tắc…thọ trì, biên chép, tụng đọc kinh Pháp Hoa thì Ngài liền hiện thân đến nói pháp cho họ.

Qua đó, chúng ta nhận thấy đây là những ngôn từ vượt ngoài sức tưởng tượng, hiểu biết của con người để thánh hoá các vị Bồ-tát lên đến đỉnh cao tột cùng của cái tốt, cái đẹp. Song, tất cả những hình ảnh đó đều mang một triết lý sâu sắc nhằm dạy cho tất cả con người biết quay lại chính bản tâm của mình. Vì trong mỗi chúng ta đều  có đầy đủ tất cả những công hạnh đó, chẳng qua do bị vô minh phiền não che lấp, nên chúng ta chưa biết trở về sống đúng bản chất thanh tịnh, trong sáng nhiệm mầu trong mình mà thôi. Bản chất từ bi được thông qua Bồ-tát Quán Thế Âm, luôn luôn lắng tai nghe những âm thanh khóc than đau khổ của chúng sanh mà hiện đến cứu độ, đồng thời cũng quay lại đểnghe tiếng âm thanh đang réo gọi trong lòng của mình, nếu âm thanh đó nhắc nhở chúng ta phát khởi những đức tính như: từ, bi, hỷ, xả, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ...thì chúng ta nên phát huy. Ngược lại những âm thanh réo gọi chúng ta buồn, giận, thương, ghét, phải, quấy, tốt, xấu...thì chúng ta nên đoạn trừ.

 

Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát, là tượng trưng cho trí tuệ, muốn thực hiện mục đích tự giác, giác tha thì phải có đầy đủ trí tuệ làm chủ được sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Ví dụ: Nhờ có trí huệ, chúng ta sẽ chọn lựa được phim ảnh, sách báo... nào nên xem để áp dụng vào trong cuộc sống ngày thêm hoàn thiện hơn thì đọc. Nhờ có trí tuệ, chúng ta tìm những lời nói thích hợp, từ ái, nhẹ nhàng dễ nghe, khiến cho đối phương cảm gián an lạc khi gần gũi với mình. Như ông bà ta từng dạy: “Chim khôn hót tiếng rảnh rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe” hoặc “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”Có nhiều người bề ngoài rất xinh đẹp, nhưng khi mở miệng nói ra câu nào đều khiến người nghe có cảm giác nhói tai, nhức óc nên người ta thường gọi đó là “lời nói vô duyên.” Ngoài lời nói ra, chúng ta cần biết chọn lựa những thức ăn, uống nào nuôi tốt cho cơ thể khoẻ mạnh thì mới dùng. Tai cũng vậy, người có trí tuệ luôn chọn những điều hay lẽ phải để nghe, nhất là những lời dạy của những bậc thánh, bậc hiền..không nghe những âm thanh đồi truỵ thúc dục con người làm những việc xấu xa, hoặc âm thanh làm não nuột lòng người. Thân, nhờ có trí, chúng ta mới hiểu được đường nào nên đi, đường nào nên dừng, chốn nào nên tới, chốn nào nên xa, việc nào nên làm, việc nào không nên làm.

            Phổ Hiền Bồ-tát, là hành động tu tập cũng như sự dấn thân vào đời cứu độ chúng sanh. Nếu chúng ta có từ bi và trí tuệ mà không thực hành thì cũng không đạt đến mục đích ta muốn. Cũng như người có mắt và chân đầy đủ mà không chịu đi thì cũng không đến được những nơi cần đến.Ví dụ, Chúng ta biết ở Đồng Nai có một trại mồ côi (trí huệ), tâm ta khởi lên thương xót (từ bi) thế nhưng chỉ biết và thương thôi chứ không chịu đi thăm thì chẳng lợi ích gì cả. Ở kinh Hoa Nghiêm còn đặc thù hơn, Ngài Đồng Tử đã hiến cuộc đời mình cho việc học đạo, tu tập giải thoát. Sự học của Ngài không hạn chế ở một con người thuộc giai cấp nào, trên từ chư Phật, Bồ-tát, dưới đến các hàng Bà-la-môn hay những kẻ thần dân bần cùng Ngài cũng đến đó để cầu đạo. Điều này nói lên cho mọi người hiểu rằng; bản chất Phật không hạn chế trong một chúng sanh nào, mà bàn bạt khắp mọi lúc, mọi nơi. Nếu chúng ta biết khơi dậy thì chất Phật hiện tiền. Cho nên hành động của Ngài Đồng Tử là muốn khuyến khích tất cả chúng sanh hãy tự tin vào chính mình, tinh tấn triển khai những điều kỳ diệu vốn có trong bản thân, để tu tập chuyển hoá khổ đau thành an lạc giải thoát. Bồ-tát trong giáo lý Đại thừa, luôn luôn phải thực hành sáu đoạn đường căn bản. Khi đã đi qua sáuđoạn đường nàytrọn vẹn,tức làđã đầy đủ hạnh nguyện tự giác và giác tha. Vì vậy, gọi sáu đoạn đường này là lục độ Ba-la-mật. Vậy lục độ Ba-la-mật là gì ?

a) Bố thí Ba-la-mật : Bố thí còn gọi là chia sẻ, ban cho, cung cấp. Gồm 3 loại: 

a.1. Tài thí có hai: Nội tại và ngoại tài

Nội tài: là đem thân mình ra để bố thí. Nghĩa là cống hiến những bộ phận trong cơ thể mình cho người khác, hay cống hiến sức lực để giúp người. Ví dụ : Chúng ta thấy một bà già gánh nặng bèn xin gánh dùm, hoặc đang chạy xe thấy người đi bộ thì phát tâm cho họ qua đường, hoặc gặp người hỏi đường chúng ta hãy vui vẻ tận tình chỉ dẫn, hoặc vào chùa làm công quả, quét đường làm cho sạch làng, xóm, lấp những ổ gà ngoài đường để tránh tai nạn cho người khác...đó gọi là cống hiến sức lực. Như chúng ta hiến máu nhân đạo, hiến lục phủ, ngũ tạng cho bệnh nhân, hoặc sau khi chết hiến xác cho y học...đó gọi là cống hiến cơ thể. Trong truyện Phật giáo có kể về tiền thân của Ngài Xá Lợi Phất cống hiến cơ thể để thực hành hạnh bố thí Ba-la-mật như sau : Một hôm, có một gã thanh niên tuổi chừng hai mươi, đứng bên đường chờ Xá Lợi Phất đi ngang qua. Khi Ngài vừa tới, gã thanh niên liền khóc lóc, kêu gào thảm thiết. Xá Lợi Phất thấy thế thì thương cảm bèn an ủi hỏi hang

    -Này cậu! Có chuyện gì mà cậu đứng đây khóc lóc thảm thiết quá vậy?

    - Xin ông đừng hỏi! Dù tôi nói ra ông cũng không giúp gì được đâu. Gã đáp.

   - Cậu ạ! Tôi là kẻ tu hành, có tâm nguyện giúp đỡ những ai bị đau khổ. Chỉ cần cậu nói rõ hoàn cảnh, nếu có khả năng, tôi sẽ đem hết tâm lực để giúp cậu mà.

  - Ông nói thế tôi cảm ơn nhiều, nhưng việc này ông sẽ không giúp được. Vì đối với tiền bạc, của cải thì tôi không thiếu một thứ gì, nhưng ngặt nỗi mẹ tôi đang bịnh nặng, từ lâu nay các thầy thầy thuốc danh tiếng trong nước đã thay nhau đến chữa đủ cách nhưng không lành. Và họ đều bảo, nếu tôi tìm ra được con mắt sống của người tu hành chân chánh, đem về chưng cách thủy cho mẹ ăn thì mới khỏi bệnh. Nhưng Ngài nghĩ coi, con mắt sống của một người bình thường còn không dễ kiếm, huống gì của người tu hành chân chính thì tìm đâu ra. Giả sử có tìm ra, thì ai có tâm Bồ-tát móc mắt mình mà cho kẻ khác chứ ? Nghĩ đến việc này như mò kim đáy biển, rồi nghĩ đến mẹ nằm đau quằng quại trên giường, rên rỉ ngày đêm mà lòng tôi đau như cắt.

 

Nghe xong, Ngài Xá Lợi Phất mĩm cười đôn hậu nói với gã rằng :

   - Ồ, vậy mà tôi tưởng việc gì khó lắm, điều này tôi làm được mà.

Nghe Ngài Xá Lợi Phất nói thế, gã trố mắt nhìn tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi:

  -  Ông chịu cho mẹ tôi con mắt của ông sao ?

  - A Di Đà Phật, đúng vậy. Tôi chính là người xuất gia theo Phật và đang muốn thực hành hạnh Bồ-TAT. Bao nhiêu tài sản tôi đã đem bố thí cho người ta hết rồi, tôiđang suy nghĩ làphải tiến thêm một bước nữa là đem thân mạng của mình ra bố thí mới được. Nhưng lâu nay chưa có ai cần tới, hôm nay cậu cần con mắt của tôi để chữa bệnh cho mẹ, đó là điều may mắn cho tôi nhiều lắm. Vậy xin cậu hãy giúp tôi lấy con mắt ra nhé!

Gã thanh niên tỏ vẻ do dự đáp:

   - Không được đâu ông ạ, nếu tôi móc mắt của ông như vậy, sẽ phạm vào tội xâm phạm thân thể của người khác, lúc đó pháp luật bắt tôi vào tù thì khổ, ông đã phát nguyện thì hãy tự mình móc ra mà cho thì mới hợp lý.

   - Nghe cậu nói cũng hợp lý nhỉ, vậy để tôi tự móc ra biếu ông nhé.

 Nói xong, Ngài chịu đựng đau đớn đưa tay móc con mắt bên trái ra trao cho gã thanh niên nói tiếp:

- Con mắt đây, tôi xin biếu cậu, cậu hãy đem nó về nhà thật nhanh để chữa bệnh cho mẹ đi kẻo để lâu hư đấy !

Gã thanh niên đưa tay tiếp lấy con mắt nhưng bỗng hét to:

  -Ôi, chết rồi ! Tôi đâu có bảo ông móc con mắt bên trái làm gì ? Bịnh mẹ tôi thầy thuốc bảo phải dùng con mắt bên phải mới lành được!

Nghe thế, Xá Lợi Phất thầm tự trách mình: 

   - Phật ơi, con đúng là người vô dụng mà, sao lúc nãy mình không hỏi trước cho cẩn thận, giờ đã lỡ rồi làm sao? Thôi đã phát tâm thì phải phát cho dõng mãnh, cứu người thì phải đến nơi chứ không được bỏ cuộc, mình phải móc luôn con mắt bên phải cho cậu ta mới được! Nghĩ như thế xong, Ngài bèn an ủi gã thanh niên:

  - Cậu đừng lo, vừa rồi tôi bất cẩn nên quên hỏi cậu trước cho rõ ràng, nhưng tôi vẫn còn con mắt bên phải đây, tôi sẽ móc ra đền lại để cậu ngay.

Nói xong, tuy trong đang trong cơn đau đớn tột cùng, nhưng Ngài cố gắng chịu đựng đưa tay móc tiếp con mắt bên phải trao cho gã thanh niên. Máu chảy xuống ướt đẫm cả đôi gò má rồi nhỏ từng giọt xuống đất, bàn tay Ngài run run quờ quạng trao cho gã. Khi tiếp lấy con mắt, chẳng những gã thanh niên không nói một lời cảm ơn, ngược lại gã đưa con mắt lên mũi ngửi ngửi, rồi ném mạnh xuống đất mắng rằng:

   -Thế mà ông tự xưng mình là người tu hành chân sao ? Con mắt của ông hôi thối không thể chịu nổi, nếu cho mẹ tôi uống thì bà chết luôn chứ lành bệnh sao được.

 Mắng xong, gã quăng con mắt xuống đất nghe cái bịch, đưa chân chà đạp cho vữa nát rồi hầm hực bỏ đi. Nghe thái độ hung hăng của gã thanh niên, Ngài Xá Lợi Phất thương xót căn tánh của một chúng sanh tạo nghiệp ác sâu dày, e rằng không tránh khỏi quả báo ác, hai hàng nước mắt Ngài bất giác chảy ra rơi xuống đất nghe lả chả. Qua câu chuyện đó, cho chúng ta một bài học, khi chúng ta phát nguyện làm phước giúp ai một điều gì đó, thì đừng mong cầu nhận lại lời cảm ơn nồng nhiệt từ họ, mà có khi phải nhận lấy sự chửi máng thô lỗ thật phủ phàng. Song, không vì thế mà chúng ta thối tâm nản chí, ngược lại phải thương họ và phát tâm mạnh mẽ nhiều hơn như Ngài Xá Lợi Phất đã làm.

a.1. Ngoại tài 

 Những tài sản thuộc ngoài thân. Nghĩa là Bồ-tát đem tiền, của giúp cho những người nghèo khổ, bệnh hoạn, tật nguyền, trẻ mồ côi, người già neo đơn, hoặc những người bị nạn như thiên tai bão lụt, sóng thần, động đất, chiến tranh, lửa cháy....Những việc làm này, thể hiện đức tính từ bi biết yêu thương thông cảm, sẻ chia, nâng đỡ cho mọi chúng sanh, mà hình ảnh quen thuộc nhất đối với chúng ta đó là Bồ-tát Quán Thế Âm luôn ban vui cứu khổ cho chúng sanh vậy.

 

Pháp thí

Luôn dạy cho chúng sanh bỏ ác hướng thiện, hoặc dùng chánh pháp hướng dẫn người tu hành để được giác ngộ giải thoát như Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi thành đạo, Ngài không vội vào Niết-bàn để an hưởng sự giải thoát một mình, mà trong 49 năm ròng rã, Ngài đi khắp cùng đất nước n Độ và tùy theo căn tánh, trình độ của mỗi con người mà nói pháp, hướng dẫn cho họ bỏ lối sống hung ác quay về con đường chí thiện, giải toả mọi đau khổ ngự trị trong lòng, để sống đời tự tại an lạc. Trong kinh Pháp Hoa, thường đề cập đến các bậc Bồ Tát đã dấn thân vào trong ba cõi sáu đường, thị hiện đúng theo sắc thân cũng như chủng tánh của mỗi loài chúng sanh mà thuyết pháp hoá độ. Như Bồ-tát Quán Thế Âm thì luôn ứng hiện 32 thân. Ngài Đại Trí Văn Thù, từng hiện thân trong loài rồng để xuống long cung nói pháp cứu độ chủng tộc loài rồng. Và kết quả long nữ nghe pháp tỏ ngộ giáo lý Đại thừa, chuyển nữ thành thân nam, trong khoảng khắc liền chứng quả Vô Thượng Bồ Đề. Ngoài những lời dạy cho con người tu hành giải thoát giác ngộ, chư Bồ-tát còn tận tâm, tận lực phương tiện truyền đạt nghề nghiệp, kiến thức, phương thức làm ăn chân chánh cho mọi người. Đó cũng gọi là pháp thí.

a) Vô úy thí

                         Là trấn an cho mọi người hết sợ hãi bằng lời nói hay việc làm của mình. Từ những điều sợ hãi nhỏ nhặt như sợ côn trùng, sợ bóng đen… Đến những nổi khiếp đảm đối với thiên tai, chiến tranh, bịnh tật, chết chóc... Bồ Tát đều dùng những lời an ủi động viên hoặc hành động bảo hộ, vỗ về khiến cho người gặp cơn hoạn nạn cảm thấy bình an, nhẹ nhõm hơn.

b) Trì giới Ba-la-mật 

Theo tinh thần Bồ-tát Đại thừa, trì giới có ba trình độ: Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới.

- Nhiếp luật nghi giới : Là nghiêm trì giới luật, gìn giữ oai nghi, thu nhiếp thân tâm thì ngưòi khác dễ sinh lòng quí kính, từ đó dễ cảm hoá thu phục họ.

-Nhiếp thiện pháp giới : Là vận dụng nhiều phương tiện giúp đỡ người khốn khó nhằm chinh phục tâm người, sau đó giáo hoá người biết tu hành.

 -Nhiêu ích hữu tình giới : Bồ-tát nguyện dùng chánh pháp hoá độ tất cả chúng sinh cùng khắp pháp giới.

c) Nhẫn nhục Ba-la-mật 

            Theo nghĩa hẹp, nhẫn nhục là nhịn chịu mọi nhục nhã và mọi khó khăn trở ngại, để vượt qua chúng một cách bình ổn. Theo nghĩa rộng, nhẫn nhục là không sanh tâm khởi niệm khi tiếp duyên xúc cảm, mà đỉnh cao là Vô sanh nhẫn hay Vô sanh pháp nhẫn. Trước tất cả pháp, dù thấy nghe hiểu biết mọi sự nhưng tâm Bồ-tát không xao động, không chấp trước.

d) Tinh tấn Ba-la-mật 

Tinh là chuyên ròng, không xen tạp; Tấn là siêng năng tiến tới. Việc học và hành đạo của Bồ tát phải tinh chuyên và cần mẫn không để gián đoạn thì mới thành tựu.

e) Thiền định Ba-la-mật 

   Nội dung của thiền định là sự bình ổn nội tâm, không quay cuồng theo trần cảnh. Lục Tổ Huệ Năng trong kinh Pháp Bảo Đàn định nghĩa về thiền định như sau: “Ngoại ly tướng vi thiền, nội bất loại vi định”. Thiền là bên ngoài không dính mắc vào các pháp, định là nội tâm không còn vọng tưởng lăng xăng. Thiền định không chỉ ở trong tư thế ngồi, mà phải thiền trong bốn oai nghi (đi-đứng-nằm-ngồi) và bất cứ mọi lúc mọi nơi phải sống trong hiện tại.

f) Trí huệ Ba-la-mật 

Trí huệ Ba-la-mật, còn gọi là Bát nhã Ba-la-mật, là trí huệ của một bậc Bồ tát đã quán triệt chân tướng của vạn pháp. Nhờ trí huệ cứu cánh cùng tột này, Bồ-tát thiết lập nhiều phương tiện, tùy căn cơ trình độ và sở thích của chúng sanh để giáo hóa họ một cách hiệu quả. ( còn tiếp)

 

 Tạp chí Hoa Đàm số 24

Các tin liên quan
» Lấy của không cho - 03:30 CH | 08/06/2016
» Vấn đề niềm tin - 01:01 CH | 06/06/2016
» Luận bàn về Tứ nhiếp pháp - 12:45 CH | 02/05/2016
» Trí tuệ và giàu sang - 03:45 CH | 03/02/2016
» Phật dụng cái Tâm - 03:35 CH | 03/02/2016
» Vị tỳ kheo khất thực bị đói - 01:34 CH | 27/11/2015
» Gốc khổ, vui - 11:28 SA | 26/11/2015
Hình ảnh cuộc đời Đức Phật Thích Ca  
XEM NHIỀU NHẤT
1/
06/06/2013 02:32 ( 12784 )
2/
14/01/2013 06:17 ( 11091 )
3/
06/06/2013 03:24 ( 8885 )
4/
22/06/2013 19:00 ( 8729 )
5/
12/01/2015 12:24 ( 8678 )
6/
10/03/2014 23:53 ( 8669 )
7/
05/06/2013 21:53 ( 8524 )
8/
06/06/2013 04:46 ( 8004 )
9/
14/01/2013 05:58 ( 7884 )
10/
24/08/2013 08:28 ( 7721 )
11/
14/01/2013 05:58 ( 7592 )
12/
14/01/2013 05:56 ( 7428 )
13/
06/06/2013 03:31 ( 6734 )
14/
13/01/2013 23:11 ( 6215 )
15/
23/09/2013 16:17 ( 6205 )
16/
10/03/2014 23:52 ( 6195 )
17/
14/01/2013 06:14 ( 6018 )
18/
14/01/2013 06:02 ( 5947 )
19/
29/07/2014 19:51 ( 5263 )
20/
08/06/2013 06:04 ( 4793 )
NHẠC PHẬT GIÁO
TRUY CẬP
Bạn là người truy cập thứ
: 21 213 705
Đang truy cập
: 494

Chinese Buddhism Pages
中国佛教网
http://www.foyuan.cn http://www.fod123.com http://www.hsfj.com http://www.pszj.org http://www.cnbuddhism.com http://www.foyue.net.cn http://www.21foxue.com http://www.foyin.com
http://www.putuoshan.org.cn http://www.fo114.net http://www.chinawts.com http://www.chinafo.org http://www.fjnet.com http://www.chinavegan.com http://www.fowang.com http://www.hongfasi.net