Thứ Sáu, 03 2016 07:03 CH
中国的
Biến văn Đôn Hoàng (tiếp theo)
09:43 CH | 18/11/2015
 BIẾN VĂN ĐÔN HOÀNG ( Tiếp theo)

                                       Đồng Văn

Tục giảng và Biến văn ra đời trong bối cảnh đời Đường, là thời kỳ đạo Phật phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ. Việc sáng lập các tông phái, sự phát triển của các tập đoàn Phật giáo, thế lực kinh tế mạnh mẽ của nhà chùa… đều thể hiện rất rõ trong thời kỳ này. Để thích ứng với tình hình này, đạo Phật đã Trung Quốc hóa, thế tục hóa hoàn toàn về mọi mặt. Chính trong sự ảnh hưởng đạo Phật như thế, kết hợp với một số nhân tố xã hội khác, Tục giảng và Biến văn đã ra đời và phát triển.

 

Tam giáo thảo luận

 Từ thời Tống Minh Đế, nhà Nam Triều, đã xuất hiện hình thức hoạt động tập trung ở một nơi, cùng tranh luận để giải thích rõ tôn chỉ tôn giáo của mình, nâng cao địa vị của Nho, Phật, Đạo. Trong phần Tam giáo đàm luận quyển năm mươi bốn sách Phật tổ thống kỷ của Thích Chí Bàn đời Tống có viết: Tống Minh Đế đến chùa Trang Nghiêm, xem tam giáo thảo luận. Đến đời Đường, dưới chính sách tông giáo dễ dãi và bầu không khí học thuật tự do, hình thức tam giáo thảo luận đã được tổ chức nhiều lần. Chẳng hạn, Hậu Đường thư có viết: Sau cao Tổ đích thân đến dự đại điển nhà Phật, khi đó, Từ Văn Viễn giảng “Hiếu kinh”, Huệ Thừa nhà Phật giảng “Bát nhã kinh”, đạo sĩ Lưu Tiến Hỷ giảng“Lão tử”.(Lục) Đức Minh chất vấn ba người… Ở đời Đường, ban đầu, hình thức tam giáo thảo luận vẫn xoay quanh trọng tâm giáo nghĩa, hình thức tiến hành là do một bên đưa ra quan điểm, gọi là “dựng nghĩa”, bên khác hỏi, hai bên biện bác lẫn nhau, không hề làm mất tính chất học thuật và trang nghiêm. Nhưng sau này, do ý chỉ của nhà vua, hoạt động này đã trở thành một nghi thức mừng ngày sinh của nhà vua, trong đó đã dần dần thêm vào một số nội dung ca ngợi công đức, có tính chất giúp vui. Việc đặt vua chúa ngang hàng với đức Phật tổ gần như là hành động dua nịnh.

 Hành động này cũng thể hiện rõ tầm quang trọng của quyền lực vua chúa trong hoạt động tam giáo thảo luận và tính chất Phật giáo ngày càng đậm nét của một quốc gia. Quyển hai bộ Nam bộ tân thư của Tiền Dịch đời Tống cho phép rằng Lúc ban đầu thì giáo mâu đối đầu nhau, sau cũng như trăm sông đổ về một biển, ba nhà Nho, Phật, Đạo đều qui về một mối dưới danh nghĩa thần đạo thiết giáo, phụ đạo dân chúng của nhà vua. Điều đặc biệt đáng chú ý là hoạt động tam giáo thảo luận về sau đã xa rời quĩ đạo biện luận kinh sách, làm rõ tôn nghĩa, khiến cho tính chất tôn giáo mờ nhạt dần, tính thế tục tăng lên. Truyện Vi Cừ Mâu trong quyển một trăm ba mươi lăm, sách Cựu đường thư cho phép: Tháng tư năm Trinh Nguyên thứ mười hai, nhằm ngày sinh nhật Đức tông, vua ngự điện Lân Đức,triệu quang cấp sự Từ Đại, binh bộ lang trung Triệu Nho, lễ bộ lang trung Hứa Mạnh Dung và Vì Cừ Mâu, đạo sĩ Vạn Tham Thành, sa môn Đàm diên, tổng cộng mười hai người, giảng luận ba nhà Nho, Đạo, Thích. Cừ Mâu thuyết giảng nhanh nhảu, trôi chảy. Ngài ngự phán Cừ Mâu giảng thuyết nho nhã, nghe lời Mâu giảng mà cảm động trong lòng. Mấy hôm sau, chuyển lên cho làm bí thư lang.

Những lời thuyết giảng cua Vi Cừ Mậu đã vượt ra khỏi phạm vi kinh nghĩa. Quyển Lưu tân khách gia thoại lục đã tiến thêm một bước nói rõ rằng Vi Cừ mâu và tăng Đàm Diên hài hước bỡn cợt, vì thế mà được ân vua. Nhờ giảng thuyết trôi chảy, nhanh nhẩu, hài hước mà có thề làm nhà vua “nghe mà cảm động”, được ân chuẩn thăng quan, cho thấy hoạt động tam giáo thảo luận lúc đó đã dần đi vào quĩ đạo giúp vui, thiên về tình cảm, còn nhờ thế mà được vua chúa tán thưởng, chứng tỏ đây là phong cách phổ biến thuận hành. Khuynh hướng thế tục, hài hước hóa trong quá trình tam giáo thảo luận đã bắt đầu xuất hiện từ thơi Huyền Tông. Hoạt động tam giáo thảo luận được tổ chức thường xuyên, tôn giáo được đặt trực tiếp dưới quyền uy của quân chủ. Màu sắc tông giáo được phản ánh qua hoạt động này đã trở nên mờ nhạt, cộng với tính chất của quốc gia theo Phật giáo đã làm cho đạo Phật ngày càng gắn bó mật thiết với đời sống xã hội, xu hướng thế tục hóa Phật giáo đã trở thành trào lưu của thời đại. Điều này có tác dụng thúc đẩy sự ra đời cùng phát triển của Tục giảng và Biến văn.

 

Sự thế tục hóa của hàng Tăng lữ

Thế tục hóa là một đặc điểm nổi bật của đạo Phật thời Đường, trong đó, mặt quan trọng là sự thế tục hóa của tăng nhân. Quan hệ giao tiếp qua lại giữa tăng nhân và xã hội bên ngoài đã có nguồn gốc từ đời trước, rõ nét nhất là quan hệ giao tiếp với tầng lớp đại sĩ phu. Tiêu biểu nhất như mối quan hệ giao tiếp mật thiết giữa Thích Quảng Tuyên và Bạch Cư Dị, Lý Ích, giữa Thích Linh Trừng và Lưu Vũ Tích, Liễu Tông Nguyên, giữa Thích Kiểu Nhiên và Cố Khoang, Vi Ứng Vật. Điều nối kết nên tình hữu nghị của họ chính là thơ. Triều đại nhà Đường là vương quốc của thơ ca, có nhiều Hòa thượng giỏi làm thơ, bốn vị Hòa thượng nhắc đến ở trên là bốn Hòa thượng – nhà thơ nổi tiếng. Còn có rất nhiều tăng nhân khác… đều quen thuộc với người đời. Bài thơ Tự Khiển của Hòa thượng Qui Nhân cuối đời Đường có những câu: “Ngày ngày khổ vì thơ, ai luận xuân với thu. Được một vần nữa ý, vạn nỗi sầu đều quên”.

         Bài thơ là sự phản ánh rõ ràng nhất thái độ say mê thơ ca của các Tăng đồ thời đó. Người đời Đường yêu thích thơ ca, thích làm thơ. Tập quán này đã từ xã hội bên ngoài xâm nhập vào “phương ngoại chi địa” và trở thành một nội dung quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của giới tăng lữ. Trong đó, thế giới tâm linh mà các bậc tăng lữ thể hiện có một phần lớn thuộc về cuộc sống đời thường. Giới Phật giáo thời đó còn coi hiếu đạo là một tôn chỉ của tôn giáo mình. Bài mở đầu quyển thượng, bộ Vu lan bồn kinh sớ của Thích Tông Mật đời đường có viết: Sơ vũ hỗn độn, tái hồ thiên địa, thông nhân thần, quán quí tiện, Nho Thích giai tông chi, kỳ duy hiếu đạo dĩ. Việc nâng cao địa vị của chữ hiếu trong đạo Phật như vậy là điều trước kia chưa từng có. Thích Linh Dư cũng quyết quyển Hiếu kinh Nghĩa Ký, cho thấy ông ta tôn sùng đạo hiếu được chủ trương trong Hiếu kinh. Hội Vu lan bồn rộ lên vào thời Đường tất nhiên cũng nhờ giới tăng lữ ra sức đề xướng.

          Đạo hiếu được Nho gia coi là phần cơ bản của luân lý làm người, lại được nhà Phật khẳng định, tôn trọng và thực hành. Giới tu hành đời Đường đã thể hiện sự thống nhất và hòa hợp với trào lưu chủ yếu coi quan niệm và đạo đức Nho gia là cơ sở chính trị, luân lý cơ bản của xã hội thời đó.Thế giới tâm linh và hành vi của các vị tu hành trở nên đời thường hóa là một nội dung của quá trình thế tục hóa Phật giáo đời đường. Trong thời kỳ đó, các vị tu hành đều rất gần gũi với xã hội từ đời sống tinh thần cho đến đời sống vật chất. Họ hiểu và cảm thụ những cảm xúc hỷ, nộ, ái, lạc hay những khát vọng và nhu cầu của đời sống bình thường. Trong quá trình thế tục hóa, hành vi tôn giáo của các nhà tu hành, bao gồm cả việc giảng kinh, đều tiếp nhận ảnh hưởng xã hội một cách tự giác hoặc không tự giác, chất đời thường trong tinh thần và hành vi của họ được phản ảnh, thể hiện trong các pháp sự do họ tiến hành. Tục giảng và Biến văn chính là sản phẩm của quá trình thế tục hóa của đạo Phật.

 

   Sự thế tục hóa của chùa chiền Phật giáo

         Ngoài chức năng tôn giáo, chùa chiền Phật giáo đời Đường còn phát triển thêm nhiều công dụng mang tính xã hội khác. Trong các ngày kỵ húy của cả nước, ngày sinh nhật của nhà vua, các chùa chiền, quán, am đều tiến hành hội trai giới. Phần tạp lục trong quyển bốn mươi chín bộ Đường hội yếu có chép sắc lệnh của Thái Tông năm Trinh Quán thứ hai như sau: Chùa Chương Kính được tiền triều xây dựng, từ nay về sau, mỗi khi đến ngày kỵ của tiền triều, được lệnh thiết hội trai giới, thắp hương, và coi đó là nghi thức vĩnh viễn về sau. Phần Thượng Thư Lễ bộ, uyển bốn, bộ Đường hội yếu cho phép: Ngày kỵ quốc, các chùa miếu ở hai kinh, mở hai lần trai giới. các đạo sĩ, nữ đạo sĩ, tăng ni, đều tập trung ở nơi trai giới, các quan văn võ từ ngũ phẩm trở lên… đều tập trung thắp hương rồi về. Nếu ở các châu huyện ngoài thì tùy định đoạt chùa miếu để làm hội trai. Vậy thì lệ thắp hương làm lễ trai giới trong ngày quốc kỵ đã có từ đầu đời Đường và được phổ biến khắp nơi.

Nhà chùa trở thành“sân khấu” để nhà vua truy điệu tiền nhân, quan lại biểu thị lòng trung thành. Có chùa còn được sử dụng để tiến hành các hoạt động ngoại giao. Tháng hai năm Vĩnh Thái nguyên niên (765) đời Đại Tông, ngày Canh Tuất, Thổ Phàn cử sứ đến xin giảng hòa, triệu Nguyên Đới, Đỗ Hồng Tiệm kết minh tại chùa Hưng Đường. Sự đa dạng hóa chức năng của chùa chiền tất nhiên sẽ làm cho màu sắc tôn giáo mờ nhạt đi, và ngược lại sẽ tô đậm thêm màu sắc đời thường. Sự thay đổi quan trọng nhất của chùa chiền đời Đường là trở thành trung tâm văn hóa giải trí của nhân dân. Từ xưa nhà chùa đã từng trở thành nơi mở tiệc chiêu đãi khách du hành. Bộ Lạc Dương già lam ký có chép việc này: Cảnh lạc tự đến ngày đại trai giới, thường mời nữ nhạt, lời ca điệu múa vang khắp nơi, âm thanh thánh thót, lảnh lót, hài hòa, du dương. Đây là chùa nữ giới, đàn ông không được vào, người nào được vào xem, đều cho rằng như thiên đường. Đến khi Văn Hiến vương mất, các điều cấm trong chùa được nới lỏng, dân chúng ra vào không bị ngăn cấm như trước nữa.

Chùa chiền trở thành nơi du ngoạn, yến ẩm. Hiện tượng này có quan hệ chặt chẽ với cảnh vật tươi đẹp, thanh tịnh trong chùa, hoặc như chùa Cảnh Lạc có thêm nữ nhac, thì càng làm tăng thêm sức hấp dẫn. Đây là tình hình thời Bắc Ngụy. Đến đời Đường, hình thức mọi người đến chùa du ngoạn, yến ẩm càng thịnh hành hơn. Nổi tiếng như tiệc đề danh tại tháp Nhạn trong chùa Từ Ân ở kinh thành, tiệc Anh Đào của các tiến sĩ ở Chùa Sùng Phúc. Đến chùa ngắm hoa trở thành tập tục của nhân dân thời đó, trong phần “Hoa mẫu đơn chùa Từ Ân”, quyển hạ, sách Kịch đàm lục có viết: Kinh thành hoa cỏ tươi tốt, đẹp nhất là hoa mẫu đơn, trong những nơi chốn của nhà Phật, ít ai không đến xem. Ngày hoa nở, tiết sứ, tân liêu, quan thuộc đến ngắm hoa liên tiếp trong nhiều ngày. Sau đó, tất cả nam nữ trong thành, người tứ phương, đều mang rượu đến du ngoạn vui chơi. Từ Xuân sang hạ, từ sớm đến tối, đường phố coi như ngừng mọi hoạt động làm ăn. Đây là cảnh tượng vui chơi xa xỉ trong thành Trường An. Vào đời Đường, phần lớn các địa phương đều có những nơi chốn vui chơi công cộng dùng để biểu diễn tạp kỹ, bách hý, tức là hý trường, mà lại có rất nhiều hý trường được thiết lập trong chùa. Quyển năm bộ Nam bộ tân thư có nói: Hý trường ở thành Trường An phần nhiều được mở tại chùa Từ Ân, nhỏ thì như Thanh Long, thứ đến là Tiến Phúc, Vĩnh Thọ, hội giảng của ni cô thì thịnh hành ở Bảo Đường.

Như thế là các chùa ớ Trường An phần nhiều đều mở nơi diễn trò. Ở ngoài thành Trường An cũng có chùa mở hý trường. Nhà chùa trở thành nơi diễn kịch, vui chơi của nhân dân. Điều này đã trực tiếp cũng cố mối liên hệ giữa chùa chiền và xã hội bên ngoài. Trong lúc ảnh hưởng đến người đời bằng không khí tôn giáo của mình, tác dụng giúp vui của chùa chiền được nâng cao. Đồng thời cuộc sống thế tục cũng qua đó mà xâm nhập vào nhà chùa và phát huy tác dụng của nó. Không khí trang nghiêm của nhà chùa dần giảm bớt. Người đời càng ngày càng chú trọng công dụng làm chỗ du ngoạn, vui chơi, yến tiệc của chùa chiền. Điều đó làm cho giới Phật giáo trong lúc thực hiện những pháp sự hướng về đời thường thì tự nhiên cũng tăng thêm phần vui vẻ. Phần Trần Lại Tử trong quyển hai trăm năm mươi bảy bộ Thái Bình quảng ký cho phép: Đời Đường, có người là Trần Lại Tử ở Doanh Khẩu, thánh năm hàng năm, đúng ngày sinh nhật, đều tiêu rất nhiều tiền. Mời tăng đạo đến mở trai yến, diễn đủ loại trò kịch. Sau khi tan tiệc, cho người diễn hàng vạn. Trong hội trai giới, nhà chùa có thể cho diễn các loại kịch, kể tiểu thuyết. Hơn nữa, màu sắc tôn giáo trong pháp sự của đạo Phật cũng nhạt dần. Trong dân gian hình thức pháp hội như thế cũng là một địa điểm lớn tụ hợp quần chúng vui chơi. Quan niệm pháp sự dân gian này cuối cùng cũng sẽ ảnh hưởng tất yếu đối với việc giảng kinh, làm cho hoạt động giảng kinh vốn dành riêng cho dân chúng tự nhiên cũng mang tính giải trí. Quá trình xác lập của Tục giảng tất nhiên cũng có chịu những tác động của nhân tố này ( còn nữa).

Tạp chí Hoa Đàm số 23 

Các tin liên quan
» Rặng hoa bên đường (tiếp theo) - 09:59 CH | 27/02/2016
» Biến văn Đôn Hoàng (tiếp theo) - 02:41 CH | 21/02/2016
» Cha mẹ nuôi con - 02:37 CH | 21/02/2016
» Cá lóc hiếu thảo - 10:39 SA | 21/11/2015
» Đoan ngọ - 03:35 CH | 17/11/2015
» Bông hồng tặng cha - 11:18 SA | 02/11/2015
» Điều tốt đẹp - 11:33 CH | 10/08/2015
» Chuyện chú dê - 12:00 SA | 09/08/2015
» Rặng hoa bên đường (tiếp theo) - 12:06 SA | 08/08/2015
» Biến văn Đôn Hoàng (tiếp theo) - 09:09 CH | 05/08/2015
» Rặng hoa bên đường - 09:32 CH | 21/07/2015
» Đứa em không mong đợi! - 10:28 CH | 20/07/2015
» Xuân trong hạ! - 09:10 CH | 19/07/2015
» Biến văn Đôn Hoàng - 09:14 CH | 17/07/2015
» Rặng hoa bên đường - 04:19 CH | 15/06/2015
Hình ảnh cuộc đời Đức Phật Thích Ca  
XEM NHIỀU NHẤT
1/
06/06/2013 02:32 ( 10195 )
2/
14/01/2013 06:17 ( 8947 )
3/
10/03/2014 23:53 ( 7435 )
4/
12/01/2015 12:24 ( 6687 )
5/
22/06/2013 19:00 ( 6414 )
6/
06/06/2013 03:24 ( 6384 )
7/
05/06/2013 21:53 ( 6181 )
8/
14/01/2013 05:58 ( 5831 )
9/
06/06/2013 04:46 ( 5728 )
10/
14/01/2013 05:58 ( 5675 )
11/
24/08/2013 08:28 ( 5533 )
12/
14/01/2013 05:56 ( 5083 )
13/
10/03/2014 23:52 ( 5042 )
14/
06/06/2013 03:31 ( 4552 )
15/
13/01/2013 23:11 ( 4330 )
16/
23/09/2013 16:17 ( 4222 )
17/
14/01/2013 06:14 ( 4160 )
18/
14/01/2013 06:02 ( 4005 )
19/
08/06/2013 06:04 ( 3716 )
20/
29/07/2014 19:51 ( 3672 )
NHẠC PHẬT GIÁO
TRUY CẬP
Bạn là người truy cập thứ
: 16 372 404
Đang truy cập
: 374

Chinese Buddhism Pages
中国佛教网
http://www.foyuan.cn http://www.fod123.com http://www.hsfj.com http://www.pszj.org http://www.cnbuddhism.com http://www.foyue.net.cn http://www.21foxue.com http://www.foyin.com
http://www.putuoshan.org.cn http://www.fo114.net http://www.chinawts.com http://www.chinafo.org http://www.fjnet.com http://www.chinavegan.com http://www.fowang.com http://www.hongfasi.net